English   rss
Liên kết
Đại học Huế tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Nguyễn Cẩm Long (06-03-2015 01:22)

- Đề tài: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất cải xanh an toàn theo hướng VietGap ở tỉnh Quảng Bình.

- Chuyên ngành: Khoa học cây trồng.

- Mã số: 62 62 01 10

- Thời gian: 8h00 ngày 20 tháng 3 năm 2015.

- Địa điểm: Phòng họp Đại học Huế, số 03 Lê Lợi - TP Huế.

 

     Trân trọng thông báo và kính mời các quý vị quan tâm đến dự.

     NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1.    Diện tích sản xuất rau của các nông hộ ở tỉnh Quảng Bình chủ yếu ở quy mô 250 - 500 m2. Cải xanh là đối tượng được trồng nhiều nhất chiếm 20% diện tích. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất rau vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:
- Mật độ trồng dày so với quy trình; lượng phân đạm bón ở mức cao, trong khi đó lân, kali ít được đầu tư. Số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong một chu kỳ sản xuất còn cao, nhất là ở các loại rau ăn quả; tỷ lệ hộ có thời gian cách ly khi sử dụng phân đạm và thuốc bảo vệ thực vật tuân theo quy trình sản xuất rau an toàn còn thấp.
- Hàm lượng N03- trong rau cải xanh cao hơn các rau hành lá, xà lách, mướp đắng, dưa chuột. Có 7/20 mẫu cải xanh có dư lượng nitrat vượt ngưỡng giới hạn cho phép, chiếm 35% . Số mẫu rau bị nhiễm thuốc trừ sâu trên cải xanh cũng đạt cao nhất trong các loại rau, có 5/15 mẫu, chiếm 33,3%.
2. Giống cải xanh mỡ số 6 có nhiều ưu điểm nổi trội và phù hợp với sản xuất rau an toàn. Thời gian sinh trưởng dao động từ 40 - 43 ngày, chiều cao trung bình từ 28,50 - 30,58 cm, đường kính từ 31,38 - 35,83 cm, số lá bình quân đạt 9,20 - 10,20 lá/cây. Giống cải xanh mỡ số 6 cho năng suất kinh tế cao nhất trong các giống được khảo nghiệm, đạt trung bình 15,39 - 17,11 tấn/ha trong vụ Đông Xuân và 20,53 - 23,70 tấn/ha trong vụ Xuân Hè. Khả năng chống chịu với sâu bệnh khá, đặc biệt khả năng kháng rệp tốt nhất trong các giống thí nghiệm. Cải xanh mỡ số 6 không có vị đắng, ăn dòn.
3. Trồng cải xanh mỡ số 6 với mật độ 44 cây/m2 (tương đương khoảng cách 15 x 15 cm) cho khả năng sinh trưởng tốt, mật độ sâu bệnh gây hại thấp; năng suất, phẩm chất và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở cả hai vụ Đông Xuân và Xuân Hè.
4.    Bón 60 kg N trên nền bón 300 kg vôi + 15 tấn phân chuồng hoai + 60 kg P205 + 40 kg K20/ha và thời gian cách ly sau khi bón 12 ngày hạn chế được tỷ lệ sâu bệnh, không làm cho dư lượng nitrat trong rau cải xanh mỡ số 6 vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép nhưng đảm bảo được khả năng sinh trưởng, năng suất thực thu tương đương với lượng bón 90 kg N và 120 kg N/ha ở cả hai vùng đất cát pha và thịt nhẹ tại Quảng Bình trong vụ Đông Xuân và Xuân Hè.
5.    Thay thế 50% lượng phân đạm (70 kg N) bằng phân bón Wehg (3,5 lít/ha) cho năng suất thực thu, hiệu quả kinh tế tương đương với công thức sử dụng 100% lượng đạm (70 N/ha) ở mức có ý nghĩa (P < 0,05). Mặt khác hạn chế được sâu bệnh gây hại và không làm cho dư lượng nitrat trong rau cải xanh mỡ số 6 vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép.
6.    Thuốc thảo mộc từ tỏi, ớt, gừng có hiệu lực trừ sâu xanh bướm trắng cao tương đương với thuốc trừ sâu sinh học và thuốc trừ sâu hóa học. Hiệu lực trung bình với sâu tơ và hiệu lực thấp đối với rệp muội và bọ nhảy. Sử dụng hỗn hợp thảo mộc ớt, tỏi, gừng có hiệu lực trừ sâu cao hơn so với sử dụng thuốc thảo mộc đơn lẽ. Thuốc trừ sâu sinh học Rholamsuper 50WSG và Dylan 2.5EC có hiệu lực trừ sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy sọc, rệp muội tương đương với thuốc hóa học Rigell 800WG, tuy nhiên hiệu lực trừ sâu của thuốc sinh học kéo dài hơn so với thuốc trừ sâu hóa học và thảo mộc.
7. Mô hình thực nghiệm áp dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài trên giống cải xanh mỡ số 6 có năng suất cao hơn mô hình sử dụng quy trình kỹ thuật của dân từ 1,53 - 3,08 tấn/ha, lợi nhuận cao hơn mô hình đối chứng từ 6.802.000 đồng - 10.638.000 đồng/ha. Các tiêu chuẩn về dư lượng nitrat và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật đều đáp ứng được tiêu chuẩn sản xuất rau VietGAP.

     NEW CONTRIBUTION OF THE THESIS
1.    The area of produced vegetables of farmer households in Quang Binh is mainly in scale 250 - 500 m2. Mustard greens is the most widely grown vegetable that accounts for 20% of the total area. Production of vegetables in Quang Binh province still has some limitations which are: planting density is thicker than process’s one; dose of nitrogen fertilizer is still at high level while phosphorus and potassium fertilizer are less applied. The number of times which plant protection products are used in a production cycle is high, especially in fruity vegetables: proportion of households which their isolation time after using urea fertilizer and plant protection products complies with the safe vegetables production is low.
-    Mustard greens has level of NO3- more than onion, lettuce, bitter gourd and cucumber do. There are 7/20 numbers of mustard greens’s samples which account for 35% of total and their nitrate residues exceed allowed limit. Mustard greens is also the kind of vegetables which its proportion of pesticides contaminated samples’s numbers is highest with average value of 5/15 (accounting for 33.3% of total).
2.    Xanh Mo So 6, which has many outstanding advantages and accords with safe vegetables production, is the variety of vegetables which its growing duration lasts from 40 to 43 days, its everage height is from 28.50 to 30.58 cm, its canopy diameter is from 31.38 to 35.83 cm and the everage number of leaves is from 9.20 to 10.20 leaves per plant. Economical yield of Xanh Mo So 6 was highest in the evaluated varieties, reached from 15.39 to 17.11 tonnes per ha in the winter - spring crop and from 20.53 to 23.70 tonnes per ha in the spring - summer crop. Its ability of resistance to pests is moderately good, especially its resistance to aphids is best. Xanh Mo So 6 is not bitter and crispy.

3.    Growing the variety of Xanh Mo So 6 with density of 15 cm x 15 cm (44 plants/m2) led to the best plant growth, the lowest density of pests; the highest yield, quality and economic efficiency in both winter- spring and spring - summer crop.
4.    The efficacy against the white butterfly (Pieris rapae) of extracts from garlic, chilli and ginger was high and equivalent to biological and chemical pesticides’s one. However, they had moderate efficacy against the diamondback moth (Plutella xylostella) and low efficacy against the cabbage aphid (Brevicoryne brassicae) and the striped flea beetle (Phyllotreta striolata). In particular, the efficacy against pests of the mixture of extracts from chilli, garlic and ginger was higher than the a single extract’s one. The efficacy of two biological insecticides of Dylan 2.5 EC and Rholamsuper 50 WSG against the white butterfly, the diamondback moth, the cabbage aphid and the striped flea beetle was equivalent to Rigell 800 WG chemical pesticides’s. However, efficacy of biological insecticides was prolonged more than chemical ones’s and extracts’s.
5.    Applying 60 kg N/ha on the field base fertilized availably with 300 kg lime/ha + 15 tonnes of manure/ha + 60 kg P2O5/ha + 40 kg K2O/ha and isolation period of 12 days after fertilizing limited the rate of pests, did not make nitrate residue in vegetables exceed the permissible limit but ensure the growth and yield equivalent to those when applying the amount of fertilizers of 90 kg of N/ha and 120 kg N/ha in both the sandy soil and light rich soil in Quang Binh in the Winter - Spring crop and the Spring - Summer crop.
6.    Replacing 50% nitrogen fertilizer (70 kg N) by Wehg biofertilizer (3.5 liters / ha) didn’t make the economical yield and the economic efficiency different from those when using 100% nitrogen (70 N/ha) at the significance level of 0.05. On the other hand, this limited pests and didn’t make nitrate residue in Xanh Mo So 6 exceed the permissible limit.
7. In the same conditions in the winter - spring of 2013 - 2014 in Quang Binh province, the model of applying the research results on Cai Xanh Mo So 6 had 1,53-3.08 tonnes/ha higher yield than the one of control model of using Cai Xanh  Trang  Nong.  The  standards  for  nitrate  residue  and  residues  of  plant protection chemical met VietGAP’s vegetables production standard.

Liên kết
CSDL về Khoa học và Công nghê